Gia đình

Hướng dẫn thu thập thông tin về gia đình, phòng chống bạo lực gia đình và bình đẳng giới

27/02/2014 03:00

Thực hiện Thông tư 23/2011/TT-BVHTTDL ngày 30 tháng 12 năm 2011 về quy định thu thập, xử lý thông tin về gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình và Quyết định 4249/QĐ-UBND ngày 07 tháng 9 năm 2011 của Uỷ ban nhân dân thành phố về ban hành “Chương trình thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 - 2020”; ngày 24 tháng 8 năm 2012 Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành văn bản số 4434/SVHTTDL-VHGĐ về việc hướng dẫn thu thập, xử lý thông tin về gia đình, phòng chống bạo lực gia đình và bình đẳng giới trên địa bàn thành phố như sau:
I. MỘT SỐ QUY ĐỊNH CHUNG:
1. Mỗi phường – xã – thị trấn đều phải lập bộ sổ (2 quyển) thu thập thông tin về gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình. Nội dung các quyển sổ gửi kèm theo văn bản hướng dẫn này. Quy cách như sau:
-    Kích thước Sổ: 21 cm x 30 cm.
-    Bìa cứng, màu:
§ Sổ ghi chép thông tin về gia đình: Màu xanh da trời.
§ Sổ ghi chép thông tin về phòng, chống bạo lực gia đình: Màu vàng chanh.
2. Tổ chức thu thập thông tin, số liệu thường xuyên và bắt đầu ghi chép hàng quý từ ngày 01 tháng đầu mỗi quý (01/01, 01/4, 01/7, 01/10).
3. Việc ghi chép thông tin về gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình vào 2 quyển Sổ này phải đảm bảo tính khách quan, trung thực, đầy đủ và chính xác.
4. Chữ viết và chữ số khi ghi chép phải sạch sẽ, rõ ràng, dễ đọc.
5. Trong trường hợp ghi sai thì gạch bỏ thông tin sai bằng cách gạch 1 gạch đè lên thông tin sai, rồi ghi thông tin đúng vào vị trí thích hợp, không được tẩy xoá thông tin đã ghi chép.
6. Đối với những ô không có thông tin thì quy ước đánh chữ "X" để tránh trường hợp ghi thêm hoặc ghi nhầm thông tin.
7. Thông tin, số liệu thu thập về gia đình, phòng, chống bạo lực gia đình phải thống nhất với ngành, đoàn thể có liên quan, ghi chép từ thực tế, tổng hợp được thông tin trên địa bàn. Cụ thể:
- Các ngành, đoàn thể cần thống nhất thông tin, số liệu: Lao động – Thương binh và Xã hội, Công an, Ủy ban Mặt trận tổ quốc, Hội Liên hiệp Phụ nữ;
- Thông tin, số liệu về phòng, chống bạo lực gia đình là số liệu tổng hợp chung của phường – xã – thị trấn từ hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình của Ủy ban nhân dân, Công an phường – xã – thị trấn.
- Thông tin, số liệu phòng, chống bạo lực gia đình ghi chép thực tế từ khu phố - ấp là nguồn cơ bản được ghi vào Sổ ghi chép thông tin về phòng, chống bạo lực gia đình. Khi lập báo cáo hàng quý, cán bộ phường – xã được phân công cần phải căn cứ vào nội dung mẫu báo cáo để tập hợp thêm các thông tin của các đơn vị cùng cấp đưa vào báo cáo.
8. Quy định việc lập báo cáo về cấp trên như sau: hàng quý, có 4 báo cáo/năm, mẫu báo cáo cho phường – xã – thị trấn và quận – huyện đính kèm theo văn bản hướng dẫn này.
a) Ủy ban nhân dân phường – xã – thị trấn báo cáo Ủy ban nhân dân quận – huyện: từ ngày 20 đến 25 tháng cuối hàng quý (gửi về Phòng văn hóa và Thông tin quận – huyện để tổng hợp báo cáo cho Ủy ban nhân dân quận – huyện và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố).
b) Ủy ban nhân dân quận – huyện báo cáo Ủy ban nhân dân Thành phố chậm nhất ngày 30 tháng cuối hàng quý (gửi báo cáo về Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch để tổng hợp báo cáo Ủy ban nhân dân thành phố và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch).
9. Khi ghi chép thông tin về gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình phải sử dụng đúng khái niệm và phạm vi hướng dẫn.
10. Ứng dụng công nghệ thông tin trong xử lý số liệu.
       II. CÁCH GHI CHÉP THÔNG TIN:
1.     Sổ ghi chép thông tin về gia đình.
            Một số khái niệm:
-         “Đăng ký thường trú là việc công dân đăng ký nơi thường trú của mình với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cơ quan này làm thủ tục đăng ký thường trú, cấp sổ hộ khẩu cho họ” (Điều 18, Luật Cư trú).
-         “Đăng ký tạm trú là việc công dân đăng ký nơi tạm trú của mình với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cơ quan này làm thủ tục đăng ký tạm trú, cấp sổ tạm trú cho họ” (Khoản 1, Điều 30, Luật Cư trú).
-         Gia đình: “…là tập hợp những người gắn bó với nhau do quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền lợi giữa họ với nhau” (Khoản 10 Điều 8, Luật Hôn nhân và Gia đình).
-         Hộ gia đình: Là nhóm người sống chung tại một nơi cư trú, có quan hệ hôn nhân, ruột thịt hoặc nhận nuôi dưỡng và có quỹ thu chi chung, có chung một hộ khẩu (nguồn Tổng cục thống kê).
-         Người cao tuổi: “Công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên” (Điều 2, Luật Người cao tuổi).
-         Trẻ em: “Công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” (Điều 1, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em).
-         Tảo hôn: “Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật”(Khoản 4 Điều 8, Luật Hôn nhân và gia đình) “ Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên”(Khoản 1 Điều 9, Luật Hôn nhân và gia đình)
-         Bạo lực gia đình: “Là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình” (khoản 2, Điều 1, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình). Có các hình thức bạo lực thân thể, tinh thần, tình dục và kinh tế; và các hành vi bạo lực gia đình được quy định tại Điều 2 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình.
1.2. Cách ghi chép:
a) Bìa sổ: Điền đầy đủ các thông tin quận – huyện, phường – xã – thị trấn, số của quyển sổ, họ tên người ghi sổ, địa chỉ liên hệ, số điện thoại.
b) Thông tin, số liệu:
-    Ghi chép theo khu phố - ấp; thông tin, số liệu tổng hợp theo từng tổ dân phố/tổ nhân dân.
-    Thời điểm ghi chép thông tin: kể từ ngày đầu mỗi quý. Do vậy , điền ngày 01/01 (quý I), ngày 01/4 ( quý II), ngày 01/7 (quý III), ngày 01/10 (quý IV).
-    Tổng số có 16 cột; số dòng ứng với số lượng tổ dân phố - tổ nhân dân có trong khu phố - ấp. Cụ thể như sau:
§ Cột 1 – Số thứ tự;
§ Cột 2 – Tên tổ dân phố/tổ nhân dân;
§ Cột 3 – Tổng số hộ gia đình: bao gồm hộ gia đình có sổ hộ khẩu thường trú (Điều 18, Luật cư trú) và hộ gia đình có sổ tạm trú (Khoản 1, Điều 30, Luật cư trú).
                   Loại hình gia đình (7 cột - ứng với 7 loại hình)
§ Cột 4 – Số hộ gia đình 2 thế hệ gồm cha mẹ và con;
§ Cột 5 – Số hộ gia đình 2 thế hệ gồm chỉ có mẹ và con ( khuyết bố);
§ Cột 6 – Số hộ gia đình 2 thế hệ chỉ có bố và con (khuyết mẹ);
§ Cột 7 – Số hộ gia đình 3 thế hệ trở lên (ông bà, cha mẹ, con, cháu, chắt);
§ Cột 8 – Số hộ gia đình 1 thế hệ ( có cả vợ chồng);
§ Cột 9 – Số hộ gia đình đơn thân (không có vợ, chồng : chỉ một người đàn ông, hoặc một phụ nữ, hoặc chỉ có trẻ em, người chưa thành niên);
§ Cột 10 – Số hộ gia đình khác: Tất cả những trường hợp không thuộc các trường hợp từ cột 4 đến cột 9 nêu trên, thì điền số hộ vào cột 10 và ghi chú loại hộ gia đình vào cuối trang ở phần “Liệt kê loại hộ gia đình khác (10): Ví dụ: Tổ dân phố A: Hộ có cô chú và cháu, Hộ có ông bà và cháu, Hộ có 2 người phụ nữ chị em họ hàng,…
§ Cột 11 – Số hộ gia đình có người cao tuổi (từ đủ 60 tuổi trở lên).
§ Cột 12 - Số hộ gia đình có trẻ em (dưới 16 tuổi).
§ Cột 13 - Số hộ gia đình có người tảo hôn: Trong những hộ này có người kết hôn (làm đám cưới, về ở với nhau) khi một bên hoặc cả 2 bên nam nữ chưa đủ tuổi kết hôn theo luật định. Cụ thể : Luật Hôn nhân và gia đình quy định “Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật “ (Khoản 4, Điều 8,) và điều kiện kết hôn “nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên” (Khoản 1 , Điều 9).
§ Cột 14 - Số hộ gia đình có bạo lực: là những hộ gia đình có xảy ra vụ bạo lực gia đình, có thể có đủ người gây bạo lực và nạn nhân, cũng có thể chỉ có người gây bạo lực, còn nạn nhân sau vụ bạo lực ở nơi khác, hoặc chỉ có nạn nhân bạo lực do người gây bạo lực ở một địa chỉ khác. Thông tin này cần đối chiếu với thông tin đã tổng hợp ghi chép trong Sổ ghi chép thông tin về phòng, chống bạo lực gia đình.
§ Cột 15 – Số hộ gia đình đạt danh hiệu “Gia đình văn hóa”: chỉ ghi 1 lần duy nhất kết quả công nhận gia đình văn hóa năm trước đó trong Sổ ghi chép thông tin về gia đình và báo cáo quý II năm hiện tại.
§ Cột 16 – Số hộ gia đình có trẻ em dưới 16 tuổi dạt danh hiệu “Gia đình văn hóa”: chiết suất các hộ có trẻ em dưới 16 tuổi trong số hộ gia đình đã đạt danh hiệu này.
            1.3. Lưu ý: ghi chép, đối chiếu, thống nhất các số liệu:
- Tổng số hộ gia đình gồm gia đình (có sổ hộ khẩu thường trú + có số tạm trú ) (cột 3): thống nhất số liệu với Công an phường – xã – thị trấn.
- Cột 3 = tổng của các cột 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10;
- Một gia đình có thể có nhiều trường hợp: vừa có người cao tuổi, có trẻ em, có bạo lực;
- Về số hộ Gia đình văn hóa:
§ Gia đình có trẻ em đạt danh hiệu “Gia đình văn hóa” (cột 16) luôn bằng hoặc nhỏ hơn Số hộ đạt danh hiệu “Gia đình văn hóa” (cột 15).
§ Căn cứ vào kết quả công nhận hàng năm của Ủy ban nhân dân phường – xã – thị trấn. Ở cấp quận – huyện: Phòng Văn hóa và Thông tin quận – huyện đối chiếu thống nhất số liệu giữa nghiệp vụ gia đình và nghiệp vụ văn hóa cơ sở.
- Số hộ gia đình có trẻ em dưới 16 tuổi thống nhất với Lao động – Thương binh và Xã hội cùng cấp.
- Số hộ gia đình có người cao tuổi thống nhất với Lao động – Thương binh và Xã hội và Ủy ban Mặt Trận cùng cấp.
2.     Sổ ghi chép thông tin về phòng, chống bạo lực gia đình:
a) Bìa sổ: Điền đầy đủ các thông tin quận – huyện, phường – xã – thị trấn, số của quyển sổ, họ tên người ghi sổ, địa chỉ liên hệ, số điện thoại.
b) Thông tin, số liệu:
- Ghi chép theo khu phố - ấp; thông tin, số liệu tổng hợp theo từng vụ bạo lực gia đình đã xảy ra, đã can thiệp xử lý.
- Thời điểm ghi chép thông tin: kể từ ngày đầu mỗi quý. Do vậy , điền ngày 01/01 (quý I), ngày 01/4 (quý II), ngày 01/7 (quý III), ngày 01/10 (quý IV).
- Tổng số có 34 cột trên 2 trang liền kề , chia ra trang bên trái  về thông tin người gây bạo lực (16 chỉ số) và trang bên phải về thông tin nạn nhân bạo lực gia đình (18 chỉ số).
c) Trang bên trái: Thông tin người gây bạo lực, gồm 16 chỉ số.
- Cột 1 – STT: số thứ tự của vụ bạo lực gia đình.
- Cột 2 – Tên người gây bạo lực gia đình.
- Cột 3 – địa chỉ: số nhà, đường, tổ dân phố.
- Cột 4, 5 – giới tính: nam, nữ (√).
- Cột 6, 7, 8 – tuổi của người gây bạo lực: ghi số tuổi người gây bạo lực vào ô tương ứng trong 3 cột tuổi sau:
§ Cột 6 – dưới 16 tuổi: ví dụ người gây bạo lực 14 tuổi, thì ghi số 14 vào ô tương ứng tại cột 6. Và chỉ ghi đến tối đa tương đương 15 tuổi.
§ Cột 7 – từ 16 tuổi đến 59 tuổi.
§ Cột 8 – từ 60 tuổi trở lên.
- Cột 9 – Dân tộc: Kinh ghi K, Hoa ghi H, còn lại tất cả các dân tộc khác khi ký hiệu #.
- Các biện pháp xử lý người gây bạo lực gia đình (Cột 10, 11, 12, 13, 14, 15).
§ Cột 10 – Tư vấn hòa giải:  
Người gây bạo lực được Ủy ban nhân dân hoặc Công an cấp xã yêu cầu dự vào cuộc làm việc để tư vấn hoặc thực hiện hòa giải với nạn nhân bị bạo lực gia đình.
§ Cột 11 – Góp ý phê bình:
Người gây bạo lực gia đình từ đủ 16 tuổi trở lên tái diễn hành vi bạo lực gia đình (không ở mức xử phạt hành chính) trong 12 tháng sau vụ việc bạo lực lần đầu đã được hòa giải ở cơ sở (có biên bản hòa giải/báo cáo hòa giải của tổ hòa giải cơ sở). Trưởng ban điều hành khu phố - Trưởng ban nhân dân ấp/Tổ trưởng dân phố - tổ trưởng tổ nhân dân có quyền quyết định tổ chức góp ý phê bình tại cộng đồng (Điều 17 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình và Điều 7 Nghị định 08/2009/NĐ-CP)
§ Cột 12 – Cấm tiếp xúc:
Theo quyết định cấm tiếp xúc của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trong thời hạn không quá 3 ngày (Điều 20 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình).
Theo quyết định của Tòa án khi đang thụ lý hoặc giải quyết án dân sự giữa người gây bạo lực gia đình và nạn nhân bạo lực gia đình (Điều 21 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình).
§ Cột 13 – Các biện pháp giáo dục
Theo luật định: “Người thường xuyên có hành vi bạo lực gia đình đã được góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư mà trong thời hạn 6 tháng, kể từ ngày áp dụng biện pháp này vẫn có hành vi bạo lực gia đình nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì có thể bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
Người có hành vi bạo lực gia đình đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà tiếp tục thực hiện hành vi bạo lực gia đình nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì có thể bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục; đối với người dưới 18 tuổi thì có thể bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng.”
(Điều 43 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình)
          “Không đưa vào cơ sở giáo dục người chưa đủ 18 tuổi, nữ trên 55 tuổi, nam trên 60 tuổi”
(Trích điểm d, khoản 2 Điều 25 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính)
Cụ thể của 3 biện pháp giáo dục:
§ Giáo dục tại xã-phường-thị trấn (Khoản 1 Điều 43 Luật PCBLGĐ và Điều 23 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính): ghi a vào cột 13.
§ Đưa vào trường giáo dưỡng người dưới 18 tuổi (Khoản 2, Điều 43, Luật PCBLGĐ và Điều 24 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính): ghi b vào cột 13.
§ Đưa vào cơ sở giáo dục (Khoản 2, Điều 43, Luật PCBLGĐ và Điều 25 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính): ghi c  vào cột 13.
- Cột 14 - Xử phạt hành chính:
Người gây bạo lực bị cơ quan thẩm quyền địa phương ra quyết định xử phạt hành chính hành vi bạo lực gia đình căn cứ vào Nghị định 110/2009/NĐ-CP ngày 10/12/2009 quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình hoặc các Nghị định xử phạt hành chính khác có liên quan (Nghị định 73/2010/NĐ-CP ngày 12/7/2010 quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự và an toàn xã hội, Nghị định 91/201/NĐ-CP ngày 17/10/2011 quy định xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em, Nghị định 55/2009/NĐ-CP ngày 10/6/2009 quy định xử phạt hành chính về bình đẳng giới).
Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính : cảnh cáo; phạt tiền; có thể áp dụng hình thức phạt bổ sung;
Có thể áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả.
Người từ 14 tuổi đến 16 tuổi vi phạm hành chính thì bị phạt cảnh cáo, từ đủ16 tuổi đến dưới 18 tuổi áp dụng các hình thức xử phạt hành chính. Khi phạt tiền thì mức phạt tiền không quá một phần hai đối với người đã thành niên.
- Cột 15 – Xử lý hình sự:
Khi người gây BLGĐ dẫn đến tổn hại thể chất, tinh thần của nạn nhân ở mức độ phạm tội (tỷ lệ thương tật 11% hoặc 9 % trở lên có sử dụng hung khí) sẽ truy cứu trách nhiệm hình sự. Xử lý hình sự là các công việc mà cơ quan thẩm quyền thực hiện như tạm giữ, điều tra, gửi hồ sơ đến Viện kiểm sát đề nghị truy tố, bắt giữ, tạm giam, truy tố, đưa ra tòa xét xử, … những công việc nêu trên được tiến hành, thì ghi nhận người gây bạo lực đã bị xử lý hình sự vào ô tương ứng tại cột 15.
- Cột 16 – Quan hệ với nạn nhân: ghi mối quan hệ gia đình giữa người gây bạo lực gia đình với nạn nhân (ông, bà, cha, mẹ, chồng, vợ, con, anh, chị, em, cháu,..).
- Lưu ý sự liên quan giữa tuổi của người gây bạo lực và biện pháp xử lý:
§ Người gây bạo lực dưới 16 tuổi (cột 6), thì không thực hiện góp ý phê bình trong cộng đồng (cột 11) và xử lý hình sự chỉ từ 14 tuổi trở lên (cột 15);
§ Người gây bạo lực gia đình dưới 18 tuổi (cột 6, cột 7), thì chỉ áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng (đánh dấu b ở cột 13);
§ Người gây bạo lực nữ trên 55 tuổi, nam trên 60 tuổi (cột 7, cột 8), thì không đưa vào cơ sở giáo dục.
d) Trang bên phải Thông tin nạn nhân bạo lực gia đình, gồm 18 chỉ số.
- Từ cột 17 đến cột 24: Cách ghi chép như các cột 2 đến cột 9 trang bên trái.
- Hình thức bạo lực gia đình ( cột 25, 26, 27, 28).
Có 4 hình thức: Chọn 1 hình thức để ghi cho nạn nhân. Cân nhắc về sự tổn hại đối với nạn nhân hoặc nguyên nhân gay gắt nhất dẫn đến bạo lực để đánh dấu (√) vào một trong các cột sau:
§ Cột 25 – Bạo lực thân thể: đánh, đấm, đạp,…vào thân thể nạn nhân bằng tay , chân hoặc có sử dụng hung khí hoặc hành vi khác xâm hại sức khỏe nhằm cố ý gây tổn hại về thể chất của thành viên gia đình.
§ Cột 26 – Bạo lực tinh thần: hành vi chửi, mắng, đay nghiến, chì chiết, lột bỏ quần áo nạn nhân trước mặt người khác hoặc nơi công cộng, đối xử tồi tệ như bắt nhịn ăn, nhịn uống, bắt chịu rét, mặc rách, đuổi ra khỏi chỗ ở hợp pháp, ngăn cản việc thực hiện quyền và nghĩa vụ trong quan hệ gia đình.
§ Cột 27 – Bạo lực tình dục: cưỡng ép quan hệ tình dục, quấy rối tình dục, đòi quan hệ tình dục khi người khác không muốn, buộc sống chung nhà hoặc ngủ chung một phòng với người tình của người có hành vi bạo lực, kích động tình dục hoặc lạm dụng thân thể đối với thành viên gia đình mà thành viên đó không phải là vợ, chồng.
§ Cột 28 – Bạo lực kinh tế: đập phá, không cho thành viên gia đình sử dụng sử dụng tài sản chung vào mục đích chính đáng, chiếm đoạt tài sản riêng của thành viên gia đình, chiêm đoạt tài sản chung của gia đình sử dụng cho mục đích các nhân, ép buộc thành viên gia đình lao động quá sức hoặc làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại, ép buộc thành viên gia đình đi ăn xin hoặc lang thang kiếm sống.
- Sử dụng các dịch vụ trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình:
Nạn nhân bạo lực gia đình tự tiếp cận, được hướng dẫn đến các dịch vụ trợ giúp chuyên nghiệp tại các cột số 29, 30, 31, 32 – là các dịch vụ phải có giấy đăng ký hoạt động theo quy định của Nhà nước.
§ Cột 29 – Cở sở tư vấn:
Đánh dấu vào cột 29 (√) khinạn nhân bạo lực gia đình tự tiếp cận, được địa phương đưa đến, hướng dẫn đến cơ sở tư vấn.
Đó là các đơn vị tư vấn thành lập theo Thông tư 02/2010/TT-BVHTTDL ngày 16/3/2010 của Bộ VHTTDL quy định chi tiết về thủ tục đăng ký hoạt động, giải thể cơ sở hỗ trợ nạn nhân BLGĐ; cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình; tiêu chuẩn của nhân viên tư vấn; cấp thẻ nhân viên tư vấn, chứng nhận nghiệp vụ chăm sóc, tư vấn và tập huấn phòng, chống bạo lực gia đình.
§ Cột 30 - Cơ sở khám, chữa bệnh:
Đánh dấu vào cột 30 (√) khinạn nhân bạo lực gia đình tự tiếp cận, được địa phương đưa đến, hướng dẫn đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để cấp cứu, điều trị, chẩn đoán, xét nghiệm, giám định,…
“Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là cơ sở cố định hoặc lưu động đã được cấp giấy phép hoạt động và cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh”
   (Điều 2, Luật Khám bệnh, chữa bệnh)
Các hình thức tổ chức cơ sở khám bệnh, chữa bệnh : bệnh viện, cơ sở giám định y khoa, phòng khám đa khoa, phòng khám chuyên khoa, bác sĩ gia đình, phòng chẩn trị y học cổ truyền, nhà hộ sinh, cơ sở chẩn đoán, cơ sở dịch vụ y tế, trạm y tế cấp xã và tương đương, các hình thức khám bệnh, chữa bệnh khác.
§ Cột 31- Cơ sở bảo trợ xã hội:
Đánh dấu vào cột 31 (√) khinạn nhân bạo lực gia đình tự tiếp cận, được địa phương đưa đến, hướng dẫn đến.
Trách nhiệm cơ sở bảo trợ xã hội trong phòng, chống bạo lực gia đình: “Cơ sở bảo trợ xã hội thực hiện việc chăm sóc, tư vấn tâm lý, bố trí nơi tạm lánh và hỗ trợ các điều kiện cần thiết khác cho nạn nhân bạo lực gia đình.”
(Điều 28, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình)
Các loại cơ sở bảo trợ xã hội: “...gồm cơ sở bảo trợ xã hội công lập và cơ sở bảo trợ xã hội ngoài công lập. Cơ sở bảo trợ xã hội công lập do cơ quan nhà nước quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên của cơ sở bảo trợ xã hội. Cơ sở bảo trợ xã hội ngoài công lập do các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên của cơ sở bảo trợ xã hội”
 (Trích Điều 2 – Nghị định 68/2008/NĐ-CP, 30/5/2008 về quy định điều kiện, thủ tục thành lập, tổ chức hoạt động và giải thể cơ sở bảo trợ xã hội)
§ Cột 32 - cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình:
Đánh dấu vào cột 32 (√) khinạn nhân bạo lực gia đình tự tiếp cận, được địa phương đưa đến, hướng dẫn đến.
Cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình “Là nơi trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình và tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình gồm chăm sóc sức khỏe và tư vấn chăm sóc sức khỏe; chăm sóc y tế; tư vấn pháp luật; tư vấn tâm lý; cung cấp nơi tạm lánh trong trường hợp nạn nhân bạo lực gia đình không có chỗ ở khác; hỗ trợ một số nhu cầu thiết yếu về đồ ăn, nước uống, cung cấp hoặc cho mượn quần áo, chăn màn và các đồ dùng thiết yếu khác cho nạn nhân bạo lực gia đình”
(Trích Điều 2 Thông tư 02/2010/TT-BVHTTDL)
- Cột 33 - Địa chỉ tin cậy ở cộng đồng:
Đánh dấu vào cột 33 (√) khinạn nhân bạo lực gia đình tự tiếp cận, được địa phương đưa đến, hướng dẫn đến để được sự chăm sóc, tư vấn, tạm lánh, hỗ trợ những điều kiện cần thiết khác.
“1. Địa chỉ tin cậy ở cộng đồng là cá nhân, tổ chức có uy tín, khả năng và tự nguyện giúp đỡ nạn nhân bạo lực gia đình tại cộng đồng dân cư.
2. Cá nhân, tổ chức thông báo về việc nhận làm địa chỉ tin cậy, nơi đặt địa chỉ tin cậy với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đặt địa chỉ tin cậy.
3. Tùy theo điều kiện và khả năng thực tế, địa chỉ tin cậy ở cộng đồng tiếp nhận nạn nhân bạo lực gia đình , hỗ trợ, tư vấn, bố trí nơi tạm lánh cho nạn nhân và thông báo cho cơ quan có thẩm quyền biết”
(Trích khoản 1, 2, 3 Điều 30 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình)
- Cột 34 – Ghi chú: ghi chép những hình thức trợ giúp không chuyên nghiệp như hoạt động tư vấn do cán bộ, tình nguyện viên thực hiện ở tổ dân phố, khu phố, phường – xã đối với nạn nhân bạo lực gia đình. Nếu áp dụng một hoặc nhiều trợ giúp được nêu dưới đây thì ghi cụ thể vào cột 34. Ví dụ ghi ngắn gọn như sau : tư vấn tâm lý; hoặc cho vay vốn; hoặc hướng dẫn học nghề; giúp điều trị bệnh,..
Các trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình do địa phương thực hiện, gồm có: tư vấn pháp luật, tâm lý, hỗ trợ nhu cầu thiết yếu; hướng dẫn kỹ năng giải quyết tranh chấp mâu thuẫn giữa thành viên gia đình; đưa vào danh sách hộ xóa đói giảm nghèo, phụ nữ cho vay vốn làm ăn; giới thiệu việc làm, hướng dẫn học nghề; giúp điều trị bệnh miễn, giảm phí tại các phòng khám tư trên địa bàn;…
Tư vấn về gia đình ở cơ sở:
“Cung cấp thông tin, kiến thức, pháp luật về hôn nhân, gia đình và PCBLGĐ;
Hướng dẫn kỹ năng ứng xử trong gia đình; kỹ năng ứng xử khi có mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình”.
(Điểm a, b khoản 2, Điều 16, Luật PCBLGĐ)
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
1. Phân công:
a) Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố:
- Chỉ đạo, hướng dẫn Phòng Văn hóa và Thông tin quận – huyện tổ chức thực hiện ghi chép Sổ, xử lý thông tin và báo cáo tổng hợp từ phường – xã đến quận – huyện; triển khai các hoạt động giám sát hỗ trợ kỹ thuật đối với công tác này đến quận – huyện, phường – xã.
- Kiểm tra, đánh giá hoạt động và kết quả ghi chép Sổ, tổng hợp thông tin của các quận – huyện, báo cáo Ủy ban nhân dân thành phố và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch theo quy định và báo cáo đột xuất khi có yêu cầu.
b) Ủy ban nhân dân quận – huyện:
- Chỉ đạo các phòng ban liên quan và Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn tổ chức việc lập Sổ và duy trì Sổ ghi chép thông tin về gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình và bình đẳng giới
- Kiểm tra việc ghi chép Sổ tại các địa bàn quản lý, xử lý thông tin, tổng hợp và lập báo cáo định kỳ và đột xuất gửi các cơ quan cấp trên theo văn bản hướng dẫn này.
- Tổ chức in ấn và phát hành Sổ ghi chép thông tin về gia đình, phòng, chống bạo lực gia đình và bình đẳng giới theo nội dung quy cách hướng dẫn tại văn bản này; và đảm bảo kinh phí để thực hiện công tác thu thập, xử lý thông tin cho cấp quận – huyện, phường – xã, người ghi chép ở khu phố - ấp theo khoản 4, khoản 8 Điều 5 Thông tư 143/2011/TTLT/BTC-BVHTTDL ngày 21 tháng 10 năm 2011 của Bộ tài chính và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
c) Phòng Văn hóa và Thông tin quận – huyện:
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp quận – huyện phê duyệt kế hoạch triển khai thực hiện theo tiến độ chung của thành phố;
- Hướng dẫn về nghiệp vụ lập Sổ ghi chép, cách thức theo dõi, cập nhật, xử lý thông tin và lập các biểu báo cáo thống kê;
- Tổ chức in ấn và phát hành Sổ ghi chép thông tin về gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình cho phường – xã – thị trấn trên địa bàn;
- Kiểm tra, tổng hợp kết quả thu thập thông tin về gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình và bình đẳng giới báo cáo cho Ủy ban nhân dân quận – huyện và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch theo quy định tại văn bản hướng dẫn này.
d) Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn:
- Tổ chức thu thập thông tin, số liệu về gia đình, phòng, chống bạo lực gia đình và bình đẳng giới trên địa bàn quản lý;
- Lập Sổ và duy trì Sổ ghi chép thông qua việc tổ chức ghi chép thông tin ban đầu và cập nhật thông tin về gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn quản lý;
- Xử lý, tổng hợp thông tin và lập báo cáo định kỳ và đột xuất gửi Ủy ban nhân dân cấp huyện theo quy định tại Thông tư này.
- Đảm bảo kinh phí trong ngân sách thường xuyên của đơn vị cho công tác thu thập, xử lý thông tin ở phường – xã và người ghi chép ở khu phố - ấp trên địa bàn quản lý theo khoản 4, khoản 8 Điều 5 Thông tư 143/2011/TTLT/BTC-BVHTTDL ngày 21 tháng 10 năm 2011 của Bộ tài chính và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
2. Tiến độ thực hiện:
- Tháng 8/2012: Triển khai hướng dẫn thực hiện đến các quận – huyện, phường – xã – thị trấn công tác lập các Sổ ghi chép thông tin.
-  Trước tháng 10/2012: Hoàn thành công tác tập huấn cho quận – huyện, phường – xã – thị trấn, tổ chức ghi chép thông tin.
- Từ quý III/2012: 100% phường – xã thực hiện ghi chép thông tin về gia đình, phòng, chống bạo lực gia đình và bình đẳng giới theo 2 mẫu sổ đã hướng dẫn, thực hiện báo cáo quý III, IV/2012 theo mẫu báo cáo quy định. Các quận – huyện chưa thể in Sổ, thì lưu theo mẫu Sổ trên giấy A 4 và các tệp tin vi tính.
- Từ quý I/2013: Quận – huyện tổ chức in ấn 2 loại Sổ phát hành cho phường – xã – thị trấn trên địa bàn ghi chép theo quy định; thực hiện khảo sát đầu vào năm 2013 về các cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình có trên địa bàn quận – huyện.
- Năm 2013: Thực hiện các hoạt động kiểm tra giám sát, hỗ trợ kỹ thuật cho công tác thu thập, xử lý thông tin về gia đình, phòng, chống bạo lực gia đình và bình đẳng giới trên địa bàn thành phố.


Tags:
Tin mới hơn
Thống kê
Tổng số lượt truy cập: 15441154