Nghệ thuật biểu diễn

Chương trình hòa nhạc mang tên “Đêm nhạc Pháp”

03/12/2013 09:07

ĐÊM NHẠC PHÁP / A FRENCH NIGHT

Chỉ huy / Conductor: Nicolas Chalvin

Oboe: Camille Joutard

Chương trình hợp tác với Dàn nhạc Pháp L’Orchestre des Pays de Savoie / Program co-operate with L’Orchestre des Pays de Savoie (France)

20h ngày 8/ 12/ 2013 tại Nhà hát Thành phố, 7 Công trường Lam Sơn, P. Bến Nghé, Q.1, TP HCM.

Chương trình hòa nhạc mang tên “Đêm nhạc Pháp” của Nhà hát Giao hưởng Nhạc Vũ Kịch TP HCM tại Nhà hát Thành phố ngày 8/12/2013 giới thiệu những nghệ sĩ tài năng đến từ Pháp và những tác phẩm nổi bật của nền âm nhạc của Pháp và thế giới.

Tiếng kèn oboe với vẻ đẹp đặc biệt, được mệnh danh là nữ hoàng trong các nhạc cụ giao hưởng. Âm sắc của kèn oboe độc đáo nhưng âm vực thể hiện không rộng, chủ yếu được sử dụng trong những giai điệu solo. Khi được thưởng thức cả một tác phẩm concerto cho kèn oboe thì hầu như những màu sắc ấn tượng nhất của cây kèn sẽ được phô diễn. Khán giả sẽ được thưởng thức tiếng kèn oboe của nữ nghệ sĩ người Pháp Camille Joutard qua bản Concerto cho oboe cung Đô trưởng nổi tiếng của Mozart.

Trong chương trình còn giới thiệu một số tác phẩm khá đặc biệt khác. Bản Ma Mère L’Oye cho dàn nhạc, rất trong sáng và tươi tắn của M.Ravel, một trong ba tên tuổi lớn nhất của trường phái âm nhạc Ấn tượng. Bản Giao hưởng cung Rê thứ của César Franck, một nhạc sĩ người Bỉ nhưng thành công và sự nghiệp của ông hấu hết ở Pháp, cũng có được sự yêu mến rộng rãi từ cuối thế kỷ 19. Đặc biệt, khán giả sẽ được thưởng thức bản Dance cho dàn nhạc dây của nhạc sĩ trẻ người Pháp, sinh năm 1977 Cyrille Lehn, người nổi danh với nghệ thuật ngẫu hứng. Năm 2012 Cyrille Lehnlà một trong 40 nhạc sĩ được nhận giải thưởng của Pháp dành cho tác phẩm của mình.

Chương trình hòa nhạc “Đêm nhạc Pháp” được dàn dựng và chỉ huy bởi nhạc trưởng nổi tiếng người Pháp Nicolas Chalvin.

Với màu sắc vô cùng phong phú của âm nhạc, từ nhạc Cổ điển đến Lãng mạn, Ấn tượng và Đương đại, chương trình hứa hẹn mang lại những giá trị thưởng thức đặc biệt thú vị.

 Vé được bán tại:

Phòng bán vé Nhà Hát Giao hưởng Nhạc Vũ Kịch, số 7 Công Trường Lam Sơn, Q.1,Tp HCM.

Thông tin chi tiết:

Nicolas Chalvin – nhạc trưởng

Giám đốc âm nhạc dàn nhạc Pays de Savoie, Nicolas Chalvin đã có một sự nghiệp rạng rỡ của một nghệ sĩ chơi nhạc giao hưởng và thính phòng trước khi dành toàn bộ tâm trí cho việc chỉ huy dàn nhạc.

Sau khi học tại học viện âm nhạc Lyon (CNSM), Nicolas Chalvin bắt đầu sự nghiệp với vai trò là một nghệ sĩ kèn Oboe, đầu tiên là với dàn nhạc giao hưởng quốc gia Lyon, sau đó là với dàn nhạc giao hưởng Luxembourg.

Ông bắt đầu sự nghiệp chỉ huy dàn nhạc và làm việc với các tác phẩm opera. Ông thực hiện buổi công diễn đầu tiên vào năm 2001, chỉ huy tác phẩm Lucio Silla của Mozart tại Lausanne (Thụy Sỹ) và tại Caen (Pháp).

Sau đó ông đã nhanh chóng có được uy tín qua hàng loạt các chương trình thành công với các tác  phẩm nổi tiếng: vở La Belle Vie cho đoàn ballet Zurich vào tháng 11 năm 2002, vở ballet được phối lại Daphnis et Chloé của Heinz Spoerli, La Voix humaine (Poulenc), Reigen (Boesmans), Carmen (Bizet), Rita (Donizetti) và La Vie parisienne (Offenbach) …

Năm 2005 – 2006, Nicolas Chalvin đến Nantes và Angers để chỉ huy tác phẩm Le Nez của Shostakovich và tới Caen thực hiện tác phẩm Maria Stuarda và L’Elisir d’amore của Donizetti. Ông được dàn nhạc giao hưởng của Nancy mời chỉ huy trong chương trình hòa nhạc chào năm mới (Ravel, Léhar, Strauss), tiếp theo các chương trình tại nhà hát lớn quốc gia tại Nancy/Lorraine, nhà hát lớn Caen.

Nicolas Chalvin là một người ham học hỏi, với vốn tiết mục về âm nhạc rộng lớn. Ông đã làm việc với một số các đạo diễn sân khấu giỏi nhất, bao gồm Matthew Jocelyn, Alain Garichot, Stephan Grögler, Omar Porras, Jérôme Savary, Daniel Slater, Patrice Caurier và Moshe Leiser.

Ông cũng chỉ huy các tác phẩm giao hưởng, từ thời kỳ đầu cổ điển (Mozart, Haydn) cho đến ngày nay. Ông làm việc thường xuyên với dàn nhạc thính phòng Lausanne, dàn nhạc giao hưởng Strasbourg, Orchestre de Bretagne, l'Orchestre de l'Opéra de Nancy et de Lorraine, dàn nhạc quốc gia Lyon, dàn nhạc giao hưởng Luxembourg, dàn nhạc giao hưởng Wurtemberg và dàn nhạc Picardie.

Các bản thu của Chalvin:

•           Sophie Arnould của Pierné, hãng Timpani Records (tháng 5 năm 2008).

•           Saint-Saëns với dàn nhạc Bretagne, hãng Timpani Records (tháng 2 năm 2007)

•           Tác phẩm cho flute và dàn nhạc của Jolivet và F. Martin cùng với José Castellon (flute) và dàn nhạc thính phòng Lausanne.

NICOLAS CHALVIN - Conductor

 Musical Director of the Orchestre des Pays de Savoie, Nicolas Chalvin led a brilliant career as a chamber and orchestral musician before deciding to devote himself entirely to conducting.

After studying at the Conservatoire (CNSM) in Lyon, Nicolas Chalvin embarked on a career as an oboist, first of all with the Orchestra National de Lyon, then with the Luxembourg Philharmonic.

Encouraged by Armin Jordan, whose assistant he had been in Lausanne, and by Franz Welser-Möst, he turned to conducting orchestral and operatic works. He made his début in 2001, when he conducted Mozart’s Lucio Silla in Lausanne (Switzerland) and Caen (France).

 He then conducted Véronique by Messager and new productions of Niobé and Médée by Pascal Dusapin at Lausanne Opera House. For the Zurich Ballet, he conducted La Belle Vie in November 2002, and the following season Heinz Spoerli’s new ballet Daphnis et Chloé

Then came two new productions at Lausanne, Gluck’s Orphée et Eurydice (Berlioz version) and Donizetti’s Don Pasquale, followed by La Voix humaine (Poulenc), Reigen (Boesmans), Carmen (Bizet), Rita (Donizetti) and La Vie parisienne (Offenbach). In 2005-06 Nicolas Chalvin was in Nantes and Angers for Le Nez by Shostakovich and in Caen for Donizetti’s Maria Stuarda and L’Elisir d’amore. In 2006-07 he replaced Stephen Kovacevich at short notice in the new production of Mozart’s Così fan tutte at the Grand Theatre in Geneva. He was invited by the Orchestre Symphonique et Lyrique de Nancy to conduct its New Year concert (Ravel, Léhar, Strauss), then Véronique by Messager at the l'Opéra National de Nancy/Lorraine. Rennes Opera invited him to conduct Rita by Donizetti and Dolorès by Jolivet, and after that he conducted Don Pasquale at the Caen Opera House.

Nicolas Chalvin is a man of immense curiosity, with a vast musical repertoire. He has worked with some of the finest stage directors, including Matthew Jocelyn, Alain Garichot, Stephan Grögler, Omar Porras, Jérôme Savary, Daniel Slater, Patrice Caurier and Moshe Leiser.

He also conducts symphonic works, from the early Classical period (Mozart, Haydn) to the present day. He works regularly with the Orchestre de Chambre de Lausanne, Strasbourg Philharmonic, the Orchestre de Bretagne, l’Orchestre de l’Opéra de Nancy et de Lorraine, the Orchestre National de Lyon, the Luxembourg Philharmonic, the Wurtemberg Philharmonic and the Orchestre de Picardie.

R e c o r d i n g s

•           Sophie Arnould by Pierné, Timpani Records (May 2008).

•           Saint-Saëns with the Orchestre de Bretagne, Timpani Records (February 2007)

•           Works for flute and orchestra by Jolivet and F. Martin with José Castellon (flute) and the Orchestre de Chambre de Lausanne (forthcoming).

Camille Joutard – nghệ sĩ Oboe

Camille Joutard bắt đầu học kèn oboe tại Học viện Âm nhạc Nice với Eric Mège, sau đó vào năm 2009 cô học tại lớp của Jean Louis Capezzali và Jérôme Guichard tại Học viện âm nhạc Quốc gia Lyon.

Vào năm 2012, cô gia nhập lớp nhạc cổ điển  của Marie Claude Vallin tại Học viện âm nhạc Lyon.

Trong năm 2012, Camille Joutard đoạt giải nhì cuộc thi Nghệ sĩ trẻ của Hiệp hội khí nhạc quốc tế tại Oklahoma – Hoa Kỳ.

Cuối năm 2012, cô gia nhập Dàn nhạc Pays de Savoie với vai trò solist kèn oboe. Đầu năm 2013 cô đã biểu diễn tác phẩm Concerto cho kèn oboe của W.A.Mozart cùng với dàn nhạc Pays de Savoie.

Camille Joutard started her studying with oboe at Conservatory in Nice with Eric Mège, in 2009 she studied with Jean Louis Capezzali and Jérôme Guichard at Conservatory in Lyon.

In 2012, Camille Joutard studied classical music with Marie Claude Vallin at Conservatory in Lyon. She also awarded the second prize in young artist competition from International Double Reed Society in Oklahoma – USA in this year.

She joined Pays de Savoie orchestra as the soloist of oboe in 2012. In early 2013, she played a Concerto by W. A. Mozart for oboe with the orchestra

Maurice Ravel (1875 - 1937 )

Maurice Ravel là một nhà soạn nhạc người Pháp nổi tiếng đặc biệt với những giai điệu, kết cấu và hiệu ứng phối khí độc đáo cho dàn nhạc từ việc khai thác tính năng các nhạc cụ. Cùng với Claude Debussy, ông là một trong những nhân vật nổi bật nhất của trường phái Âm nhạc Ấn tượng. Phần lớn những tác phẩm piano, nhạc thính phòng, thanh nhạc và dàn nhạc của Ravel đều được ưa chuộng trong các chương trình hòa nhạc.

Năm 1908, Maurice Ravel sáng tác một tác phẩm gồm 5 khúc nhạc cho đàn piano có tên "Ma mère l' Oye", dành tặng hai người con nhỏ tuổi của nghệ sĩ điêu khắc Cyprian Godebski: Mimie và Jean Godeski . Rất giống với giai điệu tuyến tính của Erik Satie "Ma mère l' Oye" mời gọi chúng ta đến với thế giới mê hoặc của thời thơ ấu thông qua 5 câu chuyện : "Pavane de la belle au bois dormant", "Petit Poucet", "Laideronnette impératrice des pagodes", "Les entretiens de la belle et de la Bete" và "Le jardin féerique".

Tác phẩm đặc biệt thành công khi được Ravel chuyển soạn cho dàn nhạc và công diễn vào ngày 20/ 4/ 1910. Tại thời điểm này, người quản lý của "Arts Theater" quyết định dựng một vở ba-lê với tác phẩm này, ngay cả khi nó chưa có bất cứ gợi ý nào liên quan đến hình ảnh sân khấu hay vũ đạo. Một số phần đã được thêm vào tác phẩm trong phiên bản cho dàn nhạc như: khúc mở đầu và khúc "danse du Rouet" rất nổi tiếng.

Maurice Ravel (1875 –1937)

Maurice Ravel was a French composer known especially for his melodies, orchestral and instrumental textures and effects. Along with Claude Debussy, he was one of the most prominent figures associated with Impressionist music. Much of his piano music, chamber music, vocal music and orchestral music has entered the standard concert repertoire.

In the year 1908, Maurice Ravel composes 5 short piano pieces called "Ma mère l'Oye", written for 2 children : Mimie and Jean Godeski. Very similar to the Erik Satie's linear melodies, "Ma mère l'Oye" invites us to the enchanted world of childhood through 5 tales: "Pavane de la belle au bois dormant", "Petit Poucet", "Laideronnette impératrice des pagodes", "Les entretiens de la belle et de la bête" and "Le jardin féerique".

This piece has a big public success when Ravel starts the orchestration for a first show on april 20th 1910. At this time, the manager of the "arts theater" decides to create a ballet even if the piece did not present any analogy with a dance or stage music at all. From this time, some pieces were added to the original work such as a prelude and the famous "danse du rouet".

Wolfgang Amadeus Mozart (1756 – 1791)

Có lẽ Mozart là nhạc sĩ thiên tài vĩ đại nhất trong lịch sử âm nhạc phương Tây. Mozart xuất sắc trong mọi thể loại âm nhạc ông sáng tác. Người đương thời luôn thấy sự mâu thuẫn và cảm xúc phức tạp trong âm nhạc của ông thật khó hiểu. Cùng với Josef Haydn, Mozart hoàn thiện các thể loại âm nhạc lớn như giao hưởng, nhạc kịch, tứ tấu bộ dây, công xéc tô điển hình của thời kỳ ầm nhạc cổ điển. Sự lỗi lạc của tác phẩm Mozart còn mãi sau này, mặc dù có những chủ đề u ám, đau xót và sự cô lập nhiều hơn sau này, nhưng các tác phẩm của ông vẫn là sự say mê, quyến rũ đối với các nhạc sĩ và người yêu nhạc.

Mozart sáng tác bản Concerto cho Oboe cung Đô trưởng, K. 314, trong khoảng từ tháng 4 năm 1777 đến tháng 9 năm 1777. Dành tặng cho Giuseppe Ferlendis , nghệ sĩ kèn oboe trong dàn nhạc của Đức Tổng Giám Mục của Salzburg,.

Phối khí cho dàn nhạc rất mạch lạc, trong sáng, làm nổi bật phần solo và sử dụng những âm hình tiết tấu được nhắc lại nhiều lần nhấn mạnh, đặc biệt là một đoạn đi xuống trong dàn nhạc mà đã được trình tấu lần đầu tiên ở bè oboe solo. Chương trung tâm của tác phẩm nhuốm màu sắc bi thương, với tiếng oboe xuất hiện khắp nơi, rất linh hoạt. Mozart đã từng viết rằng ông không thích viết chương này như vậy, nhưng sự duyên dáng tuyệt vời của chương nhạc là một điều khó tin. Rất sôi nổi, chương kết là một rondo trong nhịp nhanh 2/4, với một chủ đề giai điệu nẩy, nhấn bất chợt. Đáng chú ý nhất là khúc mở đầu của phần phát triển trung tâm, ở đó giai điệu dựa trên chủ đề rondo được phát triển thành ba biến khúc đối âm tương phản.

Wolfgang Amadeus Mozart (1756 – 1791)

Mozart is probably the greatest genius in Western musical history. Mozart excelled in every form in which he composed. His contemporaries found the restless ambivalence and complicated emotional content of his music difficult to understand. Yet, with Josef Haydn, Mozart perfected the grand forms of symphony, opera, string quartet, and concerto that marked the classical period in music. In his operas Mozart's uncanny psychological insight is unique in musical history. The brilliance of his work continued until the end, although darker themes of poignancy and isolation grew more marked in his last years, and his compositions continue to exert a particular fascination for musicians and music lovers.

Mozart composed the Oboe Concerto in C major, K. 314, for Giuseppe Ferlendis, oboist in the orchestra of the Archbishop of Salzburg, sometime between April 1, 1777  and September 22, 1777.

The orchestration is light and transparent, highlighting the soloist and giving the numerous recurrent rhythmic figures more presence, especially a falling passage in the orchestra that first introduces the solo oboe. Mozart's central slow movement is elegiac, with the oboe placed throughout in its most liquid range. Mozart once wrote that he disliked writing such pieces, but the elegance of this movement makes this difficult to believe. The ebullient, Haydnesque finale is a rondo in a quick 2/4 time, with a theme that is bouncy and jagged. Most notable is the beginning of the central episode in which a tune based on the rondo theme is developed in three-part counterpoint.

Cyrille Lehn

Nghệ sĩ Piano – một nhạc sĩ và là một nghệ sĩ biểu diễn âm nhạc ngẫu hứng, Cyrille Lehn sinh năm 1977, đã sớm có niềm đam mê âm nhạc và bắt đầu chơi piano từ năm 3 tuổi.

Anh học piano, đệm đàn và sáng tác tại nhạc viện Strasbourg và sau đó học hòa âm cũng như biểu diễn ngẫu hứng tại học viên âm nhạc quốc gia Paris, đặc biệt với Jean-Claude Raynaud, Thierry Escaich và Jean- François Zygel. Niềm say mê đối với Jazz đã khiến anh theo học tại trường âm nhạc Berklee ở Boston.

Bị thu hút bởi nghệ thuật ngẫu hứng, anh thích pha trộn âm nhạc cổ điển và các tác phẩm thuộc quy luật khác, anh thường xuyên làm việc với các nghệ sĩ opera và các ca sĩ như Helen Delavault Silvia Vadimova, Anne Sylvestre, Manon Landowski Serge Hureau và Olivier Hussenet, các nghệ sĩ múa (anh chơi ở Sombrero) cũng như các nhạc công với tất cả các loại nhạc cụ. Anh cũng từng đệm nhạc cho phim câm (Musée d'Orsay, the Louvre, the Pompidou Centre).

Cyrille Lehn là giảng viên về hòa âm và phối khí tại học viện âm nhạc hàng đầu quốc gia Paris và là giảng viên về âm nhạc ngẫu hứng tại nhạc viện quận 14 Paris.

Các tác phẩm của anh đã được biểu diễn tại nhà hát Chatelet, Festival Emperi in Salon-de-Provence bởi Eric Lesage và Frank Braley (Vivaldi-Medley) và tại Royal Chapel của Versailles cho bản Debussy Quartet (Mozart Fantasy). Anh đã hợp tác với Yann Olivo, và nhóm tám người chơi Sirba phối khí các bản nhạc bằng tiếng Do Thái và nhạc của dân Gypsy, ra đời 3 đĩa nhãn Naïve với tiêu đề: A yiddishe Mame, Du Shtetl to New York và chương trình Yiddish Rhapsody Symphony dàn nhạc giao hưởng Pau Bearn và được biểu diễn tại nhà hát Champs Elysees bởi dàn nhạc Lamoureux.

Tháng 1 năm 2012, anh là một trong số 40 nhạc sĩ dòng nhạc mới được nhận giải thưởng tại Pháp có tác phẩm được thu âm bởi dàn nhạc giao hưởng quốc gia Pháp dưới sự hướng dẫn của Didier Benetti. Anh cũng viết nhạc Jazz cho ca sĩ Zarifa bằng việc phối khí album Nature Girl, ra mắt trong chương trình The song for world/Hamonia Mundi.

Trong mùa diễn 2012/2013, Cyrille Lehn cộng tác với dàn nhạc giao hưởng Pays de Savoie viết tác phẩm gốc hòa nhạc cho phim  biểu diễn trong bộ phim ngắn “Nàng tiên cá” của đạo diễn người Nga Alexander Petrov (làm tháng 3/2013) và tác phẩm cho dàn dây được hỗ trợ bởi một dự án giáo dục tại Chablais (Haute Savoie) tháng 9/2013.

Cyrille Lehn

Cyrille Lehn was born in 1977 is the pianist, the composer and improvisation man, early interested in music and started playing the piano at the age of three years.

He studied piano, accompanying and composing at the Strasbourg Conservatory and then orchestration and improvisation at the National Conservatory of Music Paris Supérieur, particularly with Jean-Claude Raynaud, Thierry Escaich and Jean- François Zygel. His affinity with Jazz also led him to study at the Berklee Music School in Boston.

Fascinated by the art of improvisation, he likes to mix the classical and other disciplines repertoire, he regularly works with opera singers and song (Helen Delavault Silvia Vadimova, Anne Sylvestre, Manon Landowski Serge Hureau and Olivier Hussenet), dancers (he plays in Sombrero, of  Decouflé), as well as musicians from all backgrounds. He also accompanied silent films (Musée d'Orsay, the Louvre, the Pompidou Centre).

Cyrille Lehn is the professor of harmony and arrangement at the National Top Music Conservatory of Paris and the teacher of improvisation at the Conservatory of district 14 of Paris.

His compositions have been performed at the Theatre of Chatelet, Festival Emperi in Salon-de-Provence by Eric Lesage and Frank Braley (Vivaldi-Medley) and the Royal Chapel of Versailles by the Debussy Quartet (Mozart Fantasy). Amateur Yiddish and gypsy music, he co-arrangers with Yann Olivo, the Sirba Octet, three discs were released on the Naïve label: A yiddishe Mame, Du Shtetl to New York and Yiddish Rhapsody Symphony program with 'Symphony Orchestra Pau Bearn and taken to the Theatre of Champs Elysees by the Lamoureux Orchestra.

In January 2012, he was awarded among 40 composers for new music sound design in France recorded By National Orchestra of France under the direction of Didier Benetti.  He also wrote for the jazz singer Zarifa by carrying out the arrangements of the album Nature Girl, published in the Song for world / Harmonia Mundi.

During the 2012/13 season, Cyrille Lehn collaborated with the Orchestra of the Pays de Savoie to write original music cine-concert performed on the Mermaid short film by Russian director Alexander Petrov (creation in March 2013) and a work for strings that will support an educational project in Chablais (Haute Savoie) in September 2013.

César Franck (1822 - 1890)

César Franck là nhạc sỹ, nghệ sỹ piano, nghệ sỹ organ và Giáo Sư âm nhạc gốc Bỉ. Ông đã có những buổi biểu diễn đầu tiên ở Lìege, nơi ông được sinh ra. Sau đó, ông học nhạc tại Paris và trở thành nghệ sỹ organ cho nhà thờ Sainte-Clotilde vào năm 1858 và giáo sư tại Nhạc Viện Paris năm 1872. Các tác phẩm của ông đã ảnh hưởng rất lớn đến các thế hệ nhạc sỹ Pháp sau đó. Ông cũng được biết đến với khả năng ứng tấu trên đàn organ.

Giao Hưởng cung Rê thứ là tác phẩm cho dàn nhạc nổi tiếng nhất của Franck. Tác phẩm được viết trong 2 năm, được hoàn thành vào ngày 22/8/1888 và công diễn lần đầu tại Nhạc Viện Paris vào ngày 17/2/1889, hơn một năm rưỡi trước khi Franck qua đời. Tác phẩm đã góp phần đưa thể loại giao hưởng trở lại với âm nhạc Pháp sau một thời gian dài. Vì chịu sự ảnh hưởng của cả hai trường phái Pháp và Đức, khi công diễn, tác phẩm đã vấp phải sự chỉ trích của khán giả và các nhà phê bình vốn đang có chiều hướng đả kích âm nhạc Đức. Mặc dù vậy, chỉ trong vài năm sau đó, tác phẩm được biểu diễn đều đặn khắp châu Âu và Mỹ và trở thành một tác phẩm kinh điển.

Chủ đề chính của tác phẩm được giới thiệu ở đầu chương I được tác giả biến đổi và sử dụng trong cả 3 chương, đem lại sự thống nhất cho tác phẩm. Tác phẩm cũng mang một chút dấu ấn của Saint-Saëns về mặt giai điệu. Tuy nhiên, cấu trúc, hoà âm và phối khi mang nặng trường phái Lãng Mạn của Đức vào thời điểm này, như phong cách của Wagner.

César Franck (1822 - 1890)

César Franck was a Belgian composer, pianist, organist and music teacher. Franck was born in Liège where he also had his first concerts. He studied music privately in Paris and became Sainte-Clotilde's organist in 1858 and a professor at the Paris Conservatoire in 1872. His works had influenced younger generation French composers. He was also known for his improvisation on the organ.

Symphony in D minor is Franck's most famous work for orchestra. It was written in 2 years, completed on 22/8/1888 and premiered at the Paris Conservatoire on 17/2/1889, a little bit over a year and a half before his death. This symphony had helped bringing back the symphony form to French music. Having elements of both French and German music, when premiered, it was poorly received by the audience and critics, who were having anti-German sentiment. However, within several years, it was regularly programmed across Europe and in the United States, and it has become standard repertoire of many orchestras.

The theme introduced at the beginning of the first movement was varied and used throughout the piece, bringing a sense of unity to the entire symphony. The thematic influences of Saint-Saëns can also be found. However, the form, harmony and orchestration were more typical of German Late Romanticism, like that of Wagner


Tags:
Tin mới hơn
Thống kê
Tổng số lượt truy cập: 758206